Để trứng vịt lộn mang đến hiệu quả dinh dưỡng cao nhất, thai phụ cần lưu ý những vấn đề dưới đây: Mẹ bầu 3 tháng đầu bị huyết áp, bệnh tim mạch, tiểu đường không nên ăn trứng vịt lộn. Vì chúng sẽ khiến tình trạng bệnh thêm nặng. Hạn chế kết hợp trứng
VỊT BẦU VÀ THÔNG TIN ĐỔI TIỀN. "Đổi tiền" là chuyện của Nhà nước, vì "Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước" mà! Người dân không cần biết trước. Khi nào đổi tiền Nhà nước sẽ thông báo. Ở Việt Nam chuyện đổi tiền trở thành bình thường và tôi cũng đã chứng kiến
Đặc điểm của vịt bầu cánh trắng. Vịt Bầu cánh trắng có ngoại hình đặc trưng của một giống vịt siêu thịt, tương tự như vịt Bắc Kinh. Vịt có thân hình nở nang, đầu to, cổ ngắn. Khối lượng trưởng thành đạt từ 3,5 - 4 kg/con tùy trống mái. Khối lượng cơ thể
- Tả các bộ phận của vịt, chọn tả đặc điểm nổi bật nhất. Đầu (to, hình tam giác, trán rộng, mõm dài hay ngắn. Đầu của vịt hình bầu dục, bên trên lại có một túm lông màu đỏ. Cái mỏ của vịt dài, hơi vàng lúc nào cũng kêu " cạp,cạp" như để gọi những
Trứng vịt lộn thườg là món ăn để tẩm bổ cho người suy nhược cơ thể, người già, trẻ em và bà bầu. Với bà bầu, việc bổ sung trứng vịt lộn có nhiều quan điểm khác nhau. Một số người cho rằng ăn trứng vịt lộn khi mang thai sinh con ra da trắng, chân dài… còn có người thì lại cho rằng bà bầu ăn trứng vịt lộn sẽ khiến con nhiều lông, nhiều tóc, ho hen…
Vịt bầu Lâm Thượng là giống vịt bản địa của xã Lâm Thượng, huyện Lục Yên (Yên Bái). Đây là giống vịt có đặc điểm cổ ngắn, chân thấp hơn so với các loài vịt lai, có trọng lượng trưởng thành đạt 2,2-2,5kg/con, lớn nhanh sau nuôi 4-5 tháng là có thể xuất bán.
Ol53y. Giá Vịt Bầu hôm nay, Giá đồng/kg LH 091 832 7819 ngay để biết bảng báo giá Vịt Bầu. Thịt mới mổ đóng gói giao hàng luôn nên rất tươi ngon Đặt Hàng Hình ảnh của Vịt BầuVịt bầu là một giống vịt nhà có nguồn gốc từ Việt Nam. Đây là một trong những giống vịt nuôi phổ biến ở vùng nông thôn. Vịt Bầu được phân bố khá rộng rãi ở miền Bắc và cả ở miền Nam, đồng thời có nhiều ở các tỉnh Duyên Hải miền Trung. Trong miền Nam vịt Bầu còn được gọi là vịt Sen Sen cò, Sen Ô. Vịt phổ biến hầu hết các địa phương nhưng nổi tiếng nhất vẫn là loại vịt Bầu Bến Hòa Bình, vịt Phủ Quỳ hay vịt Bầu Quỳ Nghệ An. Đây là hai dòng chính là Giống vịt Bầu có nguồn gốc ở vùng Chợ Bến tỉnh Hoà Bình vì vậy nhiều người còn gọi là vịt Bầu Bến. Một dòng vịt bầu có nguồn gốc từ huyện Quỳ Châu, Nghệ An được gọi là vịt bầu điểmVịt bầu là giống vịt có tầm vóc trung bình, lúc trưởng thành vịt Bầu có khối lượng của vịt đực 2,2-2,5 kg/con, vịt mái nặng 2,0-2,2 kg/con. Giống vịt bầu to con, ngon thịt, nặng trung bình 2,0-2,5 kg, 6 tháng tuổi bắt đầu đẻ trứng, trứng nặng 50-60 g. Vịt bầu thân hình vững chắc, hình chữ nhật, đầu to, thân mình hơi dài, cổ ngắn vừa phải, ngực rộng, sâu, bụng sâu, dáng đi nặng nề, lạch bạch, mỏ và chân có nhiều màu khác nhưng phổ biến nhất là màu vàng, con trống có mỏ màu xanh lá trống có lông cổ màu xanh biếc, một số con có vòng lông trắng ở cổ. Cũng như vịt cỏ, vịt Bầu không được chọn lọc khắt khe trong thời gian dài, do đó màu lông có sự phân ly lớn từ màu trắng, đen xám, đến màu nâu xám. Bộ lông của vịt Bầu có nhiều nhóm màu khác nhau, phổ biến nhất là màu cà cuống, tiếp đó là màu xám, loang đen trắng. Khả năng cho thịt không cao, nhưng khả năng tự kiếm mồi tốt thích nghi tốt với điều kiện chăn thả truyền vịt bầu rất ngắn, trông lừ khừ nhưng chạy rất nhanh, ưa hoạt động và khéo lẩn lút. Chúng giỏi kiếm thức ăn ở các khe suối, đồng ruộng. Vịt bầu vùng Phủ Quỳ có sức chống chịu bệnh cao, thích ứng với thời tiết khí hậu nóng, lạnh, khô, ẩm, gió Lào, vịt bầu ở chất lượng thịt thơm ngon, vị ngọt, thịt vịt bầu rất ngon là do được nuôi theo hình thức thả rông. Thức ăn chủ yếu là cá, tép dưới khe suối, họa hoằn mới được gia chủ cho ăn thêm ít vỏ trấu, sắn, thóc. Đặc điểm khí hậu đặc biệt mùa đông lạnh, mùa hè không quá nóng giúp giống vịt bầu phát Bầu nuôi nhiều ở vùng đồng bằng trồng lúa ở cả hai miền Bắc, Nam. Vịt Bầu vừa được nuôi lấy thịt vừa được nuôi lấy trứng, tuy nhiên sản lượng trứng thấp hơn vịt Cỏ, đạt trung bình 100 - 130 quả/mái/năm, khối lượng trứng 70 - 80 gam. Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng là 2,5 - 2,6 kg. Tỷ lệ trứng có phôi thấp 75 - 80%. Khả năng cho thịt của vịt Bầu tương đối tốt, tỉ lệ thịt so với khối lượng sống đạt 50 -52%. Nuôi đến 63 ngày tuổi vịt trống đạt 1,5 - 1,8 kg, vịt mái đạt 1,3 - 1,5 kg, lúc trưởng thành con trống đạt 2,5 - 3,0 kg, con mái 2,2 -2,5 vịt sẽ nở sau 28 ngày được ấp. Vịt con từ lúc mới nở đến 1 tháng tuổi là thời gian "gột vịt", giai đoạn này kéo dài hay ngắn tùy theo giống vịt, mùa vụ, điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc. Vịt mới nở mua về thường cho nhịn đói, sau 4 giờ mới cho ăn. Nếu vịt chưa khô lông có thể cho nhịn lâu hơn, bởi vì sau khi nở trong bụng vịt con còn chứa một khối lượng lòng đỏ có tác dụng tiếp tục cung cấp chất dinh nên cho vịt ăn ngay thì khối lượng lòng đỏ không tiêu được dễ làm cho vịt chết trong tuần độ ănVịt con từ 1-3 ngày tuổi thường dùng gạo lức nấu chín thành cơm hay ngô mảnh nấu chín, để nguội rồi đổ ra máng ăn. Cứ 3 – 4 kg gạo/100 con vịt/1 ngày nấu chín chia làm 4-5 bữa trong đó có 1 bữa vào 10 giờ đêm để kích thích cho vịt ăn được nhiều. Khi vịt ăn xong phải cho vịt uống nước sạch hoặc pha lá hành. Trong giai đoạn vịt từ 1-3 ngày tuổi không nên cho chúng ăn thêm thức ăn đạm con ruốc, cá, tôm, tép khô để tránh tình trạng thức ăn không được tiêu hóa hết, khiến vịt ngộ đọc thức ăn rồi chết. Vịt còn nhỏ không nên cho vịt xuống nước nhiều để chúng ít bị nhiễm trùng cho ăn mồi từ ít tới nhiều, không nên cho vịt ăn quá nhiều một lúc vì chúng dễ bị bội thực chết. + Đồng thời phải tập cho vịt xuống nước tắm. Vịt con từ 11 - 16 ngày tuổi thì cho vịt ăn thức ăn bằng gạo lức hay ngô xay không cần nấu chín mà chỉ cần ngâm vào nước cho chương mềm. Cho đến khi vịt được trên 15 ngày tuổi thì bắt đầu cho chúng ăn lúa nấu chín. Hàng ngày chỉ cho vịt ăn 2 bữa và kết hợp với chăn thả ngoài đồng để vịt kiếm thêm thức ăn. Trong giai đoạn này phải bổ sung chất đạm như tôm, cua, cá khô băm nhỏ... vào thức ăn cho vịtTrong mùa mưa từ tháng 4 - tháng 10 vịt thường được thả trong ruộng lúa để ăn sâu bọ, bọ gậy các loại sâu hại khác, vừa giúp cây trồng phát triển tốt và vừa phát triển được chăn nuôi. Tuy nhiên vẫn phải cho chúng ăn thêm thóc lúa hoặc thức ăn công nghiệp để đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho dòng
Vịt bầu là một trong những giống vịt nuôi phổ biến ở vùng nông thôn, có nguồn gốc từ Việt Nam. Vịt Bầu được phân bố tương đối rộng rãi ở cả miền Bắc, miền Nam và các tỉnh Duyên Hải miền Trung. Ở miền Nam vịt Bầu còn được gọi là vịt Sen Sen Ô, Sen cò. Vịt được nuôi phổ biến ở các địa phương nhưng nổi tiếng nhất vẫn là loại vịt Bầu Bến Hòa Bình, vịt Bầu Quỳ hay vịt Phủ Quỳ Nghệ An. Vịt Bầu Bến có nguồn gốc ở vùng Chợ Bến tỉnh Hoà Bình nên còn gọi là vịt Bầu Bến. Vịt Bầu Quỳ có nguồn gốc từ huyện Quỳ Châu, Nghệ An được gọi là vịt bầu quỳ. Giống Vịt bầu là giống vịt có vóc dáng trung bình, khi trưởng thành vịt đực có khối lượng là 2,2-2,5 kg/con, vịt mái có khối lượng 2,0-2,2 kg/con. Vịt Bầu có chất lượng thịt ngon, khối lượng trung bình 2,0-2,5 kg, bắt đầu đẻ trứng ở 6 tháng tuổi, trứng nặng 50-60 g. Chúng có thân hình vững chắc, đầu to, cổ ngắn vừa phải, thân mình hơi dài, ngực rộng, bụng sâu, dáng đi nặng nề, mỏ và chân có nhiều màu khác nhưng chủ yếu là màu vàng, con trống có mỏ màu xanh lá cây. >> Xem Thêm Máy Ấp Trứng Gà Vịt 60 Trứng Thùng Xốp Cao Cấp Vịt đực có lông ở cổ màu xanh biếc, có một số con có vòng lông trắng ở cổ. Màu lông của giống vịt Bầu có sự phân ly lớn từ màu trắng, đen xám, đến màu nâu xám. Bộ lông của vịt Bầu có bộ lông với nhiều nhóm màu khác nhau nhưng chủ yếu là màu cà cuống, tiếp đến là màu xám, loang đen trắng. Tuy vịt Bầu khả năng cho thịt thấp nhưng bản năng tự kiếm mồi tốt, thích nghi tốt với điều kiện chăn thả truyền thống. Tập tính của giống vịt bầu Vịt Bầu cổ rất ngắn, trông lừ khừ nhưng chạy rất nhanh, chúng ưa hoạt động và khéo lẩn lút. Giống Vịt Bầu rất giỏi kiếm thức ăn ở các đồng ruộng, khe suối. Vịt bầu Quỳ có khả năng chống chịu bệnh tật cao, thích nghi tốt với thời tiết khí hậu nóng, lạnh, khô, ẩm, gió Lào. Vịt bầu có chất lượng thịt thơm ngon, ngọt bởi do chúng do được nuôi theo hình thức thả rông. Nguồn thức ăn chủ yếu là ốc, cá, tép dưới khe suối, ngô, sắn, thóc. Vịt Bầu được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng trồng lúa ở cả hai miền Bắc, Nam. Đây là giống gia cầm vừa đnuôi lấy thịt vừa nuôi lấy trứng, nhưng sản lượng trứng khá thấp, đạt trung bình 100 – 130 quả/mái/năm, trọng lượng trứng 70 – 80 gam. Lượng thức ăn tiêu tốn cho 10 quả trứng là 2,5 – 2,6 kg. Tỷ lệ trứng có phôi tương đối thấp 75 – 80%. Khả năng cho thịt của vịt Bầu khá tốt, tỉ lệ thịt so với khối lượng sống cao đạt 50 -52%. Sinh sản Trứng vịt ấp sau 28 ngày nở ra vịt con. Vịt con từ khi mới nở đến 1 tháng tuổi là thời gian “gột vịt”, giai đoạn này kéo dài hay ngắn tùy thuộc vào giống vịt, mùa vụ, điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng. Vịt con mới mua về người ta thường cho nhịn đói, sau 4 giờ mới cho ăn. Nếu vịt con lông chưa khô thì có thể cho nhịn lâu hơn. Sau khi nở trong bụng vịt con còn chứa một khối lượng lòng đỏ có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho vịt. Vịt mới nở không cho ăn ngay vì khối lượng lòng đỏ không tiêu được sẽ làm cho vịt chết trong tuần đầu. Các dòng Giống Vịt bầu Bến Vịt bầu Bến có thân hình bầu bĩnh, cổ dài, đầu to. Vịt mái có lông màu nâu-vàng xen lẫn. Vịt trống có lông màu cánh sẻ phía đầu, lưng. Chân màu vàng, thỉnh thoảng có chấm đen. Trọng lượng vịt mới nở 42 g/con. Khi trưởng thành, con trống nặng 1,6 – 1,8 kg, con mái nặng 1,3 – 1,7 kg. Vịt bắt đầu đẻ trứng ở 154 ngày tuổi. Trọng lượng trứng 64 – 66 g/quả. Sản lượng trứng134 – 146 quả/mái/năm đẻ. Tỷ lệ trứng có phôi 95 – 96%. Tỷ lệ trứng nở đạt 80%. Vịt bầu Quỳ Giống Vịt bầu Quỳ có thân hình gần giống vịt Bầu Bến. Trọng lượng trưởng thành con trống nặng 1,6 – 1,8 kg, con mái nặng 1,4 – 1,7 kg/con. Vịt bắt đầu đẻ trứng ở 162 – 168 ngày tuổi. Trọng lượng trứng 70 – 75 g/quả. Tỷ lệ trứng có phôi 96 – 97%. Tỷ lệ ấp nở đạt 80%. Sản lượng trứng122 – 124 quả/mái/năm. Chúng tôi rất quan tâm đến trải nghiệm của bà con – và rất muốn nghe thêm về suy nghĩ và kinh nghiệm của bà con. Bà con hãy đăng chúng trong phần bình luận dưới đây hoặc tham gia thảo luận tại Fanpage của Máy Ấp Trứng Tuyên Quang. Bài viết cùng chuyên mục
– Giống vịt Bầu có nguồn gốc ở vùng Chợ Bến tỉnh Hoà Bình, vì vậy nhiều người còn gọi là vịt Bầu Bến. – Vịt Bầu nuôi nhiều ở vùng đồng bằng trồng lúa ở cả hai miền Bắc, Nam. – Ngoại hình của vịt Bầu thân hình vững chắc, hình chữ nhật, đầu to, hơi dài, cổ ngắn vừa phải, ngực rộng, sâu, mỏ và chân có nhiều màu khác nhưng phổ biến nhất là màu vàng. – Bộ lông của vịt Bầu có nhiều nhóm màu khác nhau, phổ biến nhất là màu cà cuống, tiếp đó là màu xám, loang đen trắng. – Vịt bầu là giống vịt có tầm vóc trung bình, lúc trưởng thành vịt Bầu có khối lượng vịt đực vịt mái nặng – Khả năng cho thịt không cao, nhưng khả năng tự kiếm mồi tốt thích nghi tốt với điều kiện chăn thả truyền thống. Hướng dẫn nuôi vịt Bầu * Chọn vịt Bầu giống + Trứng vịt sẽ nở sau 28 ngày được ấp. + Vịt con có nguồn gốc rõ ràng, đàn bố mẹ sạch bệnh. + Màu lông vàng bông đặc trưng. + Nhanh nhẹn, mỏ khép kín, chân bóng, đứng vững và đi lại bình thường, bụng thon, rốn kín. * Nuôi vịt từ 1 ngày tuổi đến 30 ngày tuổi – Cách chăm sóc + Vịt con từ lúc mới nở đến 1 tháng tuổi là thời gian “gột vịt”, giai đoạn này kéo dài hay ngắn tùy theo giống vịt, mùa vụ, điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc. + Vịt mới nở mua về thường cho nhịn đói, sau 4 giờ mới cho ăn. Nếu vịt chưa khô lông có thể cho nhịn lâu hơn, bởi vì sau khi nở trong bụng vịt con còn chứa một khối lượng lòng đỏ có tác dụng tiếp tục cung cấp chất dinh nên cho vịt ăn ngay thì khối lượng lòng đỏ không tiêu được dễ làm cho vịt chết trong tuần đầu. + Phải chia lô đàn vịt từ 100-250 con/1 ô. Ô được quây bằng phên tre, không nên nhốt vịt quá đông, chúng dễ chen chúc xô đẩy đè lên nhau ảnh hưởng đến sức sinh trưởng, vịt sẽ còi cọc và chết. Chỗ nuôi vịt cần phải đảm bảo đủ ấm, đủ ánh sáng, không ẩm ướt và mật độ nuôi phù hợp, cụ thể như sau – Vịt từ 1-10 ngày tuổi, nhiệt độ trong chuồng nuôi trong quây là 25 – 30oC, còn vịt từ 10-25 ngày tuổi, cần nhiệt độ là 20 – 25oC, ẩm độ trung bình là 65%. Nếu ẩm độ quá cao chuồng nuôi tối tăm, ẩm thấp sẽ tạo điều kiện cho bệnh phát triển, nhất là các bệnh đường hô hấp như viêm xoang mũi, cúm… – Ánh sáng rất quan trọng, nếu chuồng nuôi thiếu ánh sáng vịt có khả năng bị liệt, nhưng nếu để ánh sáng chiếu trực tiếp nơi nhốt vịt thì vịt dễ cảm nắng, tụ xám và xuất huyết não chết hàng loạt. – Mật độ vịt con nuôi ở các quây + Từ 1-10 ngày nên nhốt từ 15-20con/m2. + T ừ 11-20 ngày nên nhốt từ 12-14con/1m2. + Từ 21-30 ngày nên nhốt từ 10 con/1m2. – Ở dưới nền chuồng nuôi cần lót rơm sạch, 2 ngày thay một lần cho khỏi ẩm vì nếu nền chuồng ẩm ướt thì nấm mốc dễ phát triển. * Thức ăn và nuôi dưỡng vịt – Vịt con từ 1 – 3 ngày tuổi + Thường dùng gạo lức nấu chín thành cơm hay ngô mảnh nấu chín, để nguội rồi đổ ra máng ăn. Cứ 3 – 4kg gạo/100 con vịt/1 ngày nấu chín chia làm 4 – 5 bữa trong đó có 1 bữa vào 10 giờ đêm để kích thích cho vịt ăn được nhiều. Khi vịt ăn xong phải cho vịt uống nước sạch hoặc pha lá hành lá hành pha vào nước với tỷ lệ 1kg lá băm nhuyễn cho vào 50 – 60 lít nước hoặc dùng lá hành nấu luôn với gạo. * Chú ý Trong giai đoạn vịt từ 1 – 3 ngày tuổi không nên cho chúng ăn thêm thức ăn đạm con ruốc, cá, tôm, tép khô để tránh tình trạng thức ăn không được tiêu hóa hết, khiến vịt ngộ đọc thức ăn rồi chết. Vịt còn nhỏ không nên cho vịt xuống nước nhiều để chúng ít bị nhiễm trùng rốn. – Vịt con từ 4 – 10 ngày tuổi + Tập cho vịt ăn thêm rau xanh, rong, rêu trộn lẫn với cơm. Ngoài ra cho vịt ăn thêm mồi con ruốc, tôm, tép, khô cá cơm, tập cho ăn mồi từ ít tới nhiều, không nên cho vịt ăn quá nhiều một lúc vì chúng dễ bị bội thực chết. + Đồng thời phải tập cho vịt xuống nước tắm, những ngày đầu chỉ cho vịt xuống nước từ 5 – 10 phút, sau tăng dần lên 30 phút và ngày thứ 10 trở đi cho vịt xuống nước tự do. – Vịt con từ 11 – 16 ngày tuổi + Cho vịt ăn thức ăn bằng gạo lức hay ngô xay không cần nấu chín mà chỉ cần ngâm vào nước cho chương đến khi vịt được trên 15 ngày tuổi thì bắt đầu cho chúng ăn lúa nấu chín, có thêm cám và rau xanh thì càng tốt. Hàng ngày chỉ cho vịt ăn 2 bữa và kết hợp với chăn thả ngoài đồng để vịt kiếm thêm thức ăn. Trong giai đoạn này phải bổ sung chất đạm như tôm, cua, cá khô băm nhỏ… vào thức ăn cho vịt – Vịt con từ 17 ngày tuổi trở đi + Thời gian này vẫn cho vịt ăn lúa nấu chín kết hợp với lúa không nấu. Đến ngày thứ 20 trở đi không cần phải nấu lúa nữa mà cho vịt ăn lúa thường * Nuôi vịt từ 30 – 80 ngày tuổi – Sau 30 ngày tuổi, vịt đã ăn được lúa và tự kiếm được mồi. Thả vịt ra ngoài đồng, bình quân cứ 10 hecta ruộng lúa vừa gặt có thể nuôi từ 2000 – 3000 vịt thịt. – Trong quá trình chạy đồng và nhốt vịt, cần chú ý tránh mưa, gió lùa cho vịt. Về ban đêm, nếu thấy vịt ngủ yên là vịt no và khỏe mạnh. Khi thời tiết thay đổi hoặc vịt bị đói thì chúng thường kêu và cả đàn xôn xao, buổi trưa khi nghỉ vịt thường nằm lim dim mắt. – Nếu thấy vịt ủ rũ, chậm chạp hoặc kêu nhiều là vịt bị mệt, khát nước hay bị quá nóng. Cần tránh xua đuổi và bắt vịt nhiều làm chúng đè lên nhau gây dập ống lông non dẫn đến còi cọc. – Khi chăn thả vịt ngoài đồng, mỗi đàn chỉ nên nhốt trung bình từ 500 – 3000 con không nên nhốt quá đông vì như vậy sẽ khó quản lý và thiếu thức ăn, vịt không no, chậm lớn. – Nuôi vịt ở vùng ven biển phải tập cho vịt quen dần với nước mặn. Những ngày đầu tập cho chúng xuống nước mặn từ 20 – 30 phút sau tăng dần. Trước khi cho vịt xuống nước mặn phải cho chúng tắm và uống nước ngọt, khi đưa chúng về cũng phải cho tắm và uống nước ngọt để vịt không bị trúng độc nước mặn trong nước mặn và thức ăn mặn có muối dễ gây ngộ độc cho vịt. – Vịt từ 35 – 40 ngày tuổi, lông nhú ra đều nhau gọi là “răng lược” sau đó mọc dài hơn. – Từ 70 – 90 ngày tuổi, vịt mọc đủ lông gọi là vịt “chéo cánh” lúc đó vịt đúng tuổi giết thịt, vịt đã mập và chậm lớn. – Trong mùa mưa từ tháng 4 – tháng 10 vịt thường được thả trong ruộng lúa để ăn sâu bọ, bọ gậy các loại sâu hại khác, vừa giúp cây trồng phát triển tốt và vừa phát triển được chăn nuôi. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải cho chúng ăn thêm thóc lúa hoặc thức ăn công nghiệp để đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho vịt. Lịch phòng bệnh và tiêm phòng cho vịt Ngày tuổi Các loại thuốc và vacxin 1 – 3 Bổ sung Vitamin B1, B complex, ADE. Dùng kháng sinh như Tetracycline, Neomycine… 7 – 10 Phòng vacxin viêm gan siêu vi trùng. Tiêm vacxin dịch tả vịt lần 1. 15 – 18 Phòng vacxin H5N1 lần 1. Bổ sung vitamin và kháng sinh. 28 – 46 phòng bệnh Ecoli, Tụ huyết trùng, phó thương hàn bằng kháng sinh Sulfamide và Vitamine. Phòng vacxin H5N1 lần 2. 56 – 60 Phòng vacxin dịch tả vịt lần 2 và viêm gan siêu vi trùng lần 2. 70 – 120 phòng bệnh bằng kháng sinh, bổ sung vitamin theo định kỳ 1 – 2 tháng/lần, liệu trình 3 – 5 ngày. 135 – 185 Phòng vacxin dịch tả lần 3, vacxin tụ huyết trùng lần 3. Bổ sung vitamin, kháng sinh định kỳ 1-2 tháng/lần, liệu trình 3-5 ngày. 180 – 200 Phòng vacxin H5N1 lần 3. Sau đẻ 4-6 tháng Vịt đẻ được 4-5 tháng phòng H5N1 lần 4. Vịt đẻ được 5-6 tháng phòng vacxin dịch tả và viêm gan lần 4. phòng bệnh bằng kháng sinh định kỳ 1-2 tháng/lần. 1. Bệnh dịch tả vịt do virut dịch tả vịt gây nên. * Triệu chứng – Vịt bỏ ăn ít vận động, khi lùa đi ăn thường rớt lại phía sau. – Sốt cao o C trong 2-3 ngày liền. – Chảy nước mắt, một số con bị viêm kết mạc có dịch viêm làm mắt bị dính lại => vịt mắt đỏ. – Đầu sưng do phù ở tổ chức liên kết dưới da. – Vịt ỉa chảy phân loãng màu trắng xanh, mùi thối khắm, lỗ hậu môn dính nhiều phân. – Sợ ánh sáng, một số con có triệu chứng liệt 2 chân nằm một chỗ, cánh rủ xuống. * Điều trị – Khi xuất hiện dịch thì cần tiến hành can thiệp đồng thời 2 phương pháp + Tiêm thẳng virut dich tả vịt và ổ dịch, tiêm dưới da gáy cổ hoặc nách 3 liều vacxin cho 1 con vịt 3 liều vacxin pha vào 0, 3ml nước cất. + Cho đàn vịt uống ngay thuốc có thành phần chính là Bycomycin, Norfloxacin, Oxymykoin hoặc Flumequine + Cùng với đó bổ sung thêm các chất bổ như VTM C, tăng cường giải độc men gan… trờ sức trợ lực cho đàn vịt. – Phải tuân thủ lịch tiêm phòng của chi cục thú y các cấp, tránh để dịch lây lan qua các vùng lân cận. 2. Bệnh tụ huyết trùng vịt do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra. * Triệu chứng – Quá cấp chết rất nhanh sau bữa ăn… nên không kịp có biểu hiện triệu chứng – Cấp tính + Ủ rũ, kém ăn, xiêu vẹo, bại cánh, liệt chân, khò khè. + Phân lỏng vàng xám đôi khi lẫn máu, chảu máu mũi & miệng; sốt 43-44oC, + Khát nước, nằm bẹp, giẫy chết sau 2-5 ngày. + Tỷ lệ chết đêm bất thường; đối với vịt thả đồng thường rất khó để kiểm soát dịch. – Á cấp đau mắt, chảy nước mũi, sưng khớp, viêm não. * Điều trị – Tách ngay những con bị bệnh ra khỏi đàn. – Tiêm kháng huyết thanh tiêm 1 lần tác dụng 15 ngày. – Kháng sinh Penicillin + Streptomycin, hoặc Kanamycin + Ampicillin + Colistin, Penicillin + Kanamycin, hoặc Kanamycin + Ampicillin tiêm những con khỏe trước; không thả xuống nước. – Ngoài ra cũng phải tăng cường thuốc trợ sức trợ lực cho đàn vịt. 3. Bệnh nấm phổi ở vịt * Triệu chứng – Vịt con thường bị bệnh ở thể quá cấp và cấp tính + Kém ăn, thở khó và nhanh, khi thở vịt vươn cổ dài, mũi chảy nước. + Thân nhiệt tăng, con vật ủ rũ, ỉa phân rất hôi thối. + Vịt suy nhược nhanh và có trường hợp vịt có triệu chứng co giật. + Một số con bị rối loạn tiêu hóa do độc tố của nấm tiết ra gây viêm ruột, chảy máu ruột, tiêu chảy, bại liệt. – Vịt bị bệnh ở thể mãn tính + Cơ thể suy yếu dần thở khó, thở nhanh. + Vịt biếng ăn, khát nước dữ dội, thân nhiệt tăng, tiêu chảy. + Vịt ủ rũ, đứng tụ thành từng đám, nằm chồng lên nhau. * Điều trị – Cách ly con bệnh với con khỏe, đồng thời bổ sung vitamin A vào thức ăn cho vịt. – Dùng các chế phẩm có thành phần chính là Nystatin, dùng Povidone iodine để sát trùng nước uống cho vịt. 4. Bệnh viêm gan do virut Bệnh này vịt con dễ mẫn cảm nhất. * Triệu chứnng – Bệnh ở thể cấp tính Vịt con thường chết ngay sau1-2 giờ bị nhiễm virut. + Vịt ủ rũ, kém ăn, không theo kịp các con khác trong đàn. + Đầu nghẹo về phía sau và ch ân đi co giật. + Sau thời gian ngắn thì vịt không vận động nữa mà nằm ngửa nhắm mắt 2 chân đạp ngửa về phía sau. * Điều trị – Hiện nay chưa có loại thuốc nào điều trị đặc hiệu được bệnh này. – Tuy nhiên ngày nay người ta dùng kháng thể viêm gam vịt để điều trị cho những con sớm phát hiện bệnh. 5. Bệnh sưng phù đầu * Triệu chứng – Vịt sốt cao 42-43 o C. – Sưng phù đầu, sưng mặt. – Dịch viêm chảy nhiều ở mắt và mũi. – Giảm ăn, giảm đẻ. * Điều trị – Dùng Oxytetracylin kết hợp với Tylosin để điều trị bệnh cho kết quả tốt nhất. – Cùng với đó kết hợp với thuốc trợ sức trợ lực, tăng cường công năng giải độc cho gan, thận. 6. Bệnh phó thương hàn * Triệu chứng – Vịt con 3-15 ngày tuổi thường bị bệnh nhiều ở thể cấp tính, vịt lớn 45 ngày tuổi trở lên thường bị thể mạn tính. – Vịt ốm bị tiêu chảy, phân loãng có bọt khí, lông đít dính muối urat, – Đi lại ít, chúng tách khỏi đàn tụ tập thành nhóm tìm chỗ ấm. – Vịt khát nước, mệt mỏi, ủ rũ, mắt nửa nhắm nửa mở hoặc nhắm hẳn do viêm màng kết mạc có mủ. – Bệnh có chứng thần kinh ở dạng lên cơn, lúc đó vịt lăn quay ra run rẩy hai chân, đầu ngoẹo. Đặc biệt là vịt bệnh trước khi chết nằm ngửa, chân co giật trên không, cho nên người chăn nuôi gọi là bệnh “co giật” của vịt. – Bệnh kéo dài 3-4 ngày, chết đến trên 70%. * Điều trị – Dùng Florfenicol kết hợp với Doxycyclin để điều trị bệnh. – Bên cạnh đó cũng cần phải bổ sung thêm thuốc trợ sức trợ lực cho đàn vịt. 7. Bệnh nhiễm khuẩn * Triệu chứng – Thời gian nung bệnh từ 1- 10 ngày. – Ở vịt 3 ngày tuổi đã có thể nhiễm bệnh, – Vịt bị rút cổ, lông xù, mắt lim dim như buồn ngủ, sổ mũi và khó thở. – Có triệu chứng thần kinh như co giật, quay đầu, ngoẹo cổ… vịt đẻ chết lai rai, giảm đẻ, vỏ trứng dính máu. – Tiêu chảy phân loãng có màu trắng xanh rồi chết. * Điều trị – Tách riêng những con bị bệnh. – Dùng Amoxycillin kết hợp với Colistin sulfate, hoặc Gentamicin kết hợp với Colistin để cho kết quả tốt nhất. – Cùng với đó kết hợp bổ sung thêm thuốc trợ sức trợ lực cho đàn vịt. 8. Bệnh nhiễm độc tố Aflatoxicosis * Triệu chứng – Bệnh không bị lấy lan. – Vịt chậm lớn, kém ăn. – Có thể xuất hiện triệu chứng thần kinh rồi chết. – Mức độ bệnh còn tùy thuộc vào hàm lượng nấm mốc có trong thức ăn. * Điều trị – Không có thuốc điều trị nấm trong bệnh này. – Biện pháp tốt nhất là bảo quản tốt các loại thức ăn cho vịt, tránh cho vịt ăn các loại thức ăn đã bị nấm mốc.
266 ViewsVịt bầu là cái tên khá quen thuộc với chúng ta nhưng không hẳn ai cũng phân biệt được chúng. Chúng thường được chăn nuôi ở các trang trị hay các vùng nông thôn và rất phổ biến hiện nay. Chúng là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và chế biến được nhiều món ăn hấp dẫn. Và đây cũng là một loài đem lại thu nhập lớn cho những người dân làm nông và chăn nuôi. Giới thiệu về đặc điểmPhân loạiChế độ ăn và cách nuôiCách chế biến món kho sảCách chế biến món nướng chao Giới thiệu về đặc điểm Đây là loài vật có nguồn gốc tại Việt Nam cụ thể là tại chợ Bến của tỉnh Hòa Bình. Hiện nay chúng được nhân giống ra rất nhiều và hầu như khắp cả nước nơi nào cũng có bán. Người miền Bắc gọi chúng là con vịt bầu còn người miền nam gọi là vịt sen hay sen ô. Chúng có thân hình khá chắc chắn với cái đầu hơi dài và to còn phần cổ thì khá ngắn. Phần ngực sâu và rộng, dáng vóc vừa phải với dáng đi lạch bạch đặc trưng của giống loài này. Màu lông của chúng rất đa dạng có khi màu loang đen trắng hay cũng có khi lại màu xám. Và cũng có con có màu cà cuống, mỏ và chân cũng có nhiều màu phổ biến nhất là vàng. Khi trưởng thành con đực nặng khoảng 2,2 đến 2,5 kg và con mái nhẹ hơn với 2 đến 2,2kg. Nuôi đến khoảng 6 tháng tuổi là loài này bắt đầu cho trứng, mỗi quả khoảng 50 đến 60 gam. Phân loại Ở Việt Nam có 2 loại chủ yếu là vịt bầu Bến có nguồn gốc ở chợ Bến Hòa Bình. Hiện chúng cũng được nuôi rất nhiều ở khu vực các tỉnh miền Bắc như Thanh Hóa hay Hà Nội,… Loài này có cổ dài đầu to, thân hình bầu bĩnh và chân có màu vàng thỉnh thoảng đốm đen. Con đực phần lưng và đầu có màu trắng sẻ, con cái thì có màu nâu vàng xen lẫn nhau. Lúc mới nở con con chỉ nặng khoảng 42 gam nhưng khi trưởng thành chúng nặng 1,3 đến 1,8 kg. Chúng bắt đầu có thể sinh sản khi được 154 ngày tuổi với khoảng 134 đến 146 quả mỗi con. Mỗi quả trứng nặng khoảng 66 gam, với tỷ lệ phôi là 95- 96% và tỷ lệ nở là 80%. Loại thứ 2 là vịt bầu Quỳ có nguồn gốc ở Quỳ Châu Nghệ An, chúng cũng rất phổ biến. Chúng có thân hình cũng tương tự như bầu Bến với khối lượng khoảng 1,4 đến 1,8 kg 1 con. Tuy nhiên loài này nuôi thời gian lâu hơn mới đẻ trứng và số lượng trứng trung bình ít hơn. Khoảng 162 đến 168 ngày là chúng đẻ trong 34 tuần với số lượng 122 đến 124 quả một con. Ưu điểm của chúng là khối lượng trứng lớn với 70 đến 75 gam mỗi quả tỷ lệ phôi 97%. Ngoài ra hiện nay vịt bầu cánh trắng cũng rất được ưa thích mang lại nguồn lợi kinh tế cao. Chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc và được nuôi nhiều từ Thanh Hóa trở ra miền bắc nước ta. Loài này có khả năng lớn nhanh, kháng bệnh tốt, tỷ lệ đẻ cao và đặc biệt là thịt dày. Khi trưởng thành chúng có khối lượng đạt 3,5 đến 4 kg, có màu trắng xen một vài màu khác. Chúng thường được nuôi trong 52- 55 ngày hoặc ít hơn là đã có thể xuất, là giống siêu thịt. Thức ăn mà chúng tiêu thụ cũng ít hơn các loại vịt hơi, mang lại nguồn lợi kinh tế cao. Chế độ ăn và cách nuôi Khoảng 3 ngày đầu mới nở thì nấu gạo lứt chín như cơm rồi cho ra máng rộng cho nguội. Tỷ lệ thức ăn mỗi ngày cho 100 con là khoảng 3-4 kg gạo nấu chín chia thành 5 bữa. Để kích thích vịt ăn nhiều, nhanh phát triển thì người nuôi nên cho chúng ăn thêm vào 10h tối. Sau ăn xong thì cho chúng uống sạch, còn lại không cho uống quá nhiều dễ gây nhiễm trùng rốn. Các thức ăn nhiều đạm như cá, tép, tôm không nên cho ăn vì khi này chúng khó hấp thụ. Nên cho chúng ăn từ từ, từ ít tới nhiều tránh cho ăn nhiều ngay tại một thời điểm nào. Để chúng thích nghi dần với nước và cứng cáp hơn thì người nuôi nên cho chúng xuống nước sớm. Khi nuôi đến ngày thứ 11- 16 thì không cần nấu nữa, chi cần ngâm gạo hoặc cám với nước. Và từ khi 16 ngày tuổi trở đi thì bạn có thể cho chúng ăn lúa đã được nấu chín . Ngày cho ăn 2 lần còn lại thì có thể thả chúng tự do ở ngoài đồng tự kiếm ăn. Thời điểm này chúng cũng hấp thụ được các chất đạm từ tôm cua cá nên thả là hợp lý. Trong thời kỳ tháng 4 đến tháng 10 là lúc mưa nhiều nhất, đồng ruộng cũng có nhiều sâu bọ. Lúc này vịt được thả để ăn các sâu bọ này, vừa bổ sung dinh dưỡng vừa giúp mùa vụ. Tuy nhiên bạn vẫn phải bổ sung các loại thức ăn công nghiệp để đảm bảo dưỡng chất. Cách chế biến món kho sả Đầu tiên là chuẩn bị nguyên liệu với 1 kg vịt khoảng nửa con, 30 gam sả và nước kho. Cùng các gia vị như mắm. nêm đường, tiêu, tỏi, hành tím, ớt đỏ, rượu trắng, gừng và dầu ăn. Đầu tiên là mua vịt sạch rồi rửa qua bằng cách xát muối, sau đó lóc xương và lấy thịt. Dùng gừng và rượu để khử mùi tanh và giúp thịt thơm ngon hơn, rồi rửa sạch qua với nước. Ướp thịt cùng 50 ml nước mắm, 20 gam nêm, 60 gam đường, 20 ml nước kho và sả băm. Cho hành tỏi băm cùng một chút dầu ăn vào phi thơm rồi cho vịt vào xào sơ qua. Khi thịt hơi săn lại thì cho nước đun ngập mặt thịt và đun liu diu khoảng 40 phút cho nhừ. Món ăn thơm nức dậy mùi mà ăn kèm với cơm nóng thì vô cùng tuyệt vời và hấp dẫn. Cách chế biến món nướng chao Bạn có thể dùng nguyên phần thịt hay miếng đùi hoặc cũng có thể dùng nửa con làm nguyên liệu. Sơ chế sạch thịt như các bước ở trên rồi khứa vài đường chéo lên thân vịt cho dễ chín. Hơn nữa khi ướp cũng dễ ngấm hơn, ướp gia vị gồm 2 thìa canh chao, 1 thìa dầu hào. Cùng 1 thìa dầu hào, ớt bột, đường, tỏi băm, nửa thìa tiêu, muối trộn đều và ướp 30 phút. Làm nóng lò khoảng 180 độ trong 15 phút rồi mới cho vịt vào nướng 15 phút. Rồi lấy ra phết thêm một lớp gia vị rồi cho lại vào lò nướng thêm khoảng 10 phút nữa. Thực hiện 2 lần như vậy là bạn đã có một món ăn vô cùng thơm ngon và hấp dẫn. Xem thêm Vịt xiêm là con gì mua ở đâu và giá bán bao nhiêu Vịt cỏ môi trường sống như thế nào cách nuôi ra sao Vịt trời còn gọi là gì đặc điểm nổi bật và hình ảnh chi tiết Liên hệ
đặc điểm vịt bầu